Bạn đang xem: Cây thuốc quý » Cây bạch chỉ – thảo dược giảm đau, kháng khuẩn, hưng phấn thần kinh

Cây bạch chỉ – thảo dược giảm đau, kháng khuẩn, hưng phấn thần kinh

Bạch chỉ là một vị thuốc chữa cảm lạnh, làm giảm sưng tấy và làm khô mủ, làm dịu cơn đau đầu do cảm gió, thông kinh lạc. Các bộ phận như rễ củ, hạt, lá và quả của cây bạch chỉ đều được dùng làm thuốc. Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết hơn về đặc tính, các công dụng và cách dùng bạch chỉ.

Hình vẽ cây bạch chỉ

TÊN GỌI, HÌNH DÁNG CỦA CÂY BẠCH CHỈ

Cây bạch chỉ có tên khoa học là Angelica dahurica thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Trong dân gian bạch chỉ có một số tên gọi khác như bách chiểu, chỉ hương, đỗ nhược, phương hương, linh chỉ … Cây bạch chỉ ưa khí hậu lạnh, trong tự nhiên thường được tìm thấy ở các vùng có khí hậu hàn đới như: Siberi (Nga), Hắc Long Giang (Trung Quốc), miền bắc Nhật bản và Triều Tiên.

Cây bạch chỉ là cây lâu niên cao từ 1m đến 2,5m. Cây có thân mập hình trụ rỗng và không phân nhánh, thân dày 2cm đến 8cm có màu xanh ánh tía, trên thân cây có lông tơ. Lá cây bạch chỉ có cuống ôm lấy thân cây, ở viền lá có khía.

Cây có rễ trụ có màu nâu và mùi thơm. Hoa bạch chỉ mọc ở ngọn thành cụm tán kép có màu trắng, có khía. Quả bạch chỉ hình gần tròn. Cây ra hoa vào tháng 7, 8 và cho quả vào tháng 8 đến 9 hàng năm.

Bộ phận giá trị nhất của cây bạch chỉ là rễ củ, thường được dùng làm thuốc. Người ta thường thu hoạch củ bạch chỉ vào cuối mùa thu khi lá đã vàng úa. Củ đào lên có hình chùy dài từ 10cm đến 20cm to ở trên và thuôn nhỏ dần ở phía dưới. Củ bạch chỉ có màu nâu nhạt, trên thân củ xẻ nhiều vết dọc. Khi bẻ ra có màu trắng ngà, có nhiều bột. Củ bạch chỉ có mùi thơi hắc, vị cay và đắng nhẹ.

Thân cây bạch chỉ

THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG CỦA CÂY BẠCH CHỈ

Các phân tích hóa học đã cho biết trong rễ bạch chỉ có các  couramin: byak-angelicin, byak-angelicol, imperatorin, xanthotoxin, oxypeucedanin, isoimperatorin. Trong đó couramin byak-angelicol giúp giãn mạch vành tim.

Tinh dầu bạch chỉ được chiết xuất từ rễ củ và quả cây bạch chỉ chứa các chất sau: phellandrene, resisn nồng độ 1%, angelicotoxin nồng độ 0,43%, angelicin, axit angelic và furocoumarins.

Bạch chỉ còn có khả năng ức chế một số chủng vi khuẩn như: chủng vi khuẩn phó thương hàn, chủng vi khuẩn thương hàn. Ngoài ra bạch chỉ cũng có tác dụng với trực khuẩn lỵ, than, lao, trực khuẩn đại tràng và trực khuẩn mủ xanh. Theo ngôn ngữ Đông y các tác dụng của bạch chỉ là: tán hàn, khu phong, giải biểu, táo thấp và chỉ thống giải độc. 

Tác dụng giảm đau: bạch chỉ có thể làm giảm các hiện tượng đau đầu do cảm cúm, đau đầu sau sinh, đau răng lợi, ..

Làm hưng phấn trung khu thần kinh: thành phần angelicotoxin có tác động lên trung khu vận động huyết quản, trung khu hô hấp và dây thần kinh phế vị. Qua đó có tác động tăng huyết áp, làm mạch chậm, hơi thở bị kéo dài, gây nôn mửa.

Một số thành phần hóa học của bạch chỉ được cho là có khả năng ghiết các tế bào ung thư và tế bào nấm, làm giảm sự lo lắng và ổn định dạ dày.

Rễ bạch chỉ

MỘT SỐ BÀI THUỐC SỬ DỤNG BẠCH CHỈ

Điều trị viêm mũi dẫn đến đau đầu: dùng bạch chỉ, tân di, thương nhỉ tử mỗi loại 9gr, bạc hà 4,5gr đem tán mịn. Dùng liên tục 2 đến 3 lần mỗi ngày trong 3 đến 5 ngày, mỗi ngày 3gr.

Chữa đau bụng kinh: bốc thang thuốc gồm bạch chỉ, quế chi, bán hạ chế, uất kim, can khương: mỗi vị 8gr. Ngưu tất và đan sâm mỗi vị 12gr. Sắc thuốc uống 5 ngày trước kì kinh nguyệt.

Chữa bệnh hôi miệng: dùng hai vị bạch chỉ và xuyên khung, mỗi vị 30gr tán thành bột rồi trộn với mật ong làm thành viên tễ. Mỗi ngày ngậm từ 2 đến 3 viên.

Điều trị cảm lạnh: một thang thuốc gồm có bạch chỉ, cam thảo, thông bạch, đậu khấu mỗi vị 3gr, sinh khương 5gr và đại táo 6gr. Sắc thuốc cho người bệnh uống còn nóng ấm để ra mồ hôm.

Điều trị nhọt độc có mủ: thang thuốc gồm bạch chỉ, đương quy, tạo giác mỗi lại 7gr. Sắc lên uống mỗi ngày 1 thang.

Điều trị cho trẻ bị sốt: nấu bạch chỉ làm nước tắm cho ra mồ hôi giúp giảm sốt.

Tim mạch

CẤM CHỈ ĐỊNH KHI SỬ DỤNG BẠCH CHỈ

Chất Furanocouramins trong bạch chỉ có thể gây viêm da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

Các đối tượng sau được khuyến cáo không sử dụng bạch chỉ:

  • Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.
  • Những người dị ứng với các chất chiết xuất từ cây đương quy.
  • Người có ung nhọt đã vỡ mủ không dùng bạch chỉ.
  • Người bị đau đầu do huyết hư không sử dụng bạch chỉ.
Người già

CẢM ƠN BẠN ĐÃ ĐỌC BÀI

Mời bạn xem thông tin về các sản phẩm của Bếp bản tại đây!

Leave a Reply